Hướng dẫn Hỗ trợ: 098 1821 807 (8h30 - 21h)

GIỚI THIỆU BÀI HỌC

- “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

- Bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng “sóng”. “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân, phân thân của cái tôi trữ tình. Bài  thơ  được  kết  cấu  trên cơ  sở nhận thức sự tương đồng, hoà hợp giữa hai hình tượng trữ tình: “sóng” và “em”. Hai hình tượng này tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc hoà quyện vào nhau không thể tách rời.

Tìm hiểu nội dung bài thơ qua 9 khổ thơ được chia như sau:

  • Khổ 1, 2
  • Khổ 3, 4
  • Khổ 5
  • Khổ 6, 7
  • Khổ 8, 9

NỘI DUNG BÀI HỌC

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả Xuân Quỳnh:

- Xuân Quỳnh (1942-1988), là một nhà thơ nữ Việt Nam. Bà được xem là nữ thi sĩ nổi tiếng với nhiều bài thơ tình được nhiều người biết đến như Thuyền và Biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa...

- Bà tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942tại làng La Khê, xã Văn Khê, tỉnh Hà Tây (nay là quận Hà Đông, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình công chức, mẹ mất sớm, bố thường xuyên công tác xa gia đình, bà được bà nội nuôi dạy từ nhỏ đến khi trưởng thành.

 - Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa.

- Đến với thơ Xuân Quỳnh, ta sẽ lắng nghe được tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. Trong những bài thơ của mình, chị luôn bộc lộ niềm khát khao tình yêu, trân trọng, nâng niu hạnh phúc. Tình yêu trong thơ chị vừa nồng nhiệt, táo bạo, vừa hồn nhiên, thiết tha, say đắm.

- Tác phẩm tiêu biểu:

+ Tơ tằm - chồi biếc (thơ, in chung, Nhà xuất bản Văn học, 1963)

+ Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968)

+ Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)

+ Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)

+ Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)

+ Tự hát (thơ, 1984)

- Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.

- Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

2. Bài thơ "Sóng":

- “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

- Bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng “sóng”. “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân, phân thân của cái tôi trữ tình. Bài  thơ  được  kết  cấu  trên cơ  sở nhận thức sự tương đồng, hoà hợp giữa hai hình tượng trữ tình: “sóng” và “em”. Hai hình tượng này tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc hoà quyện vào nhau không thể tách rời. Điều đó đã tượng trưng cho sự  phong phú, phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tâm hồn người con gái đang yêu.

- Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng. Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ. Tất cả đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc.

II. Đọc hiểu văn bản

1. Khổ 1, 2:

yêu.- Mở đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt của một tâm hồn khao khát yêu đương đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn. Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim đang cồn cào, khao khát tình yêu.

- Hai trạng thái tâm lí đối nghịch lại được diễn tả trong một ngữ cảnh cụ thể. Nhưng cặp từ gợi tả cảm xúc “Dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ” kết hợp với nghệ thuật đối đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực.

- Ba hình ảnh “sông”, “sóng”, “bể” như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình.

- Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực trong trái tim, là khát vọng muôn đời của nhân loại, nhất là của tuổi trẻ. Cũng như sóng, nó mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian.

- Thán từ “ôi” đã thể hiện rõ ràng hơn nét nồng nàn trong giọng thơ Xuân Quỳnh. Đây là tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu.

- Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế, muôn đời vẫn thế, vẫn dữ dội, ồn ào, vẫn dịu êm, lặng lẽ như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên. Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn gắn liền với khao khát và mơ ước, nó luôn làm ta bồi hồi và nhung nhớ.

- Từ láy “bồi hồi” là trạng thái tâm hồn bất định, nó đã khắc họa thật rõ ràng những nét cảm xúc, ở đó có cái nôn nao, xao xuyến; có nỗi khắc khoải,da diết của tình yêu muôn đời vĩnh hằng trong “ngực trẻ”. 

2. Khổ 3, 4:

- Từ “Không hiểu nổi mình” nhà thơ liên tiếp đặt ra những băn khoăn, thắc mắc. Thắc mắc về biển cả, chính là thắc mắc về tình yêu. Đó là một hiện t¬ượng tâm lý thông thường trong tình yêu - yêu có nghĩa là hiểu rất rõ về người mình yêu và đồng thời người yêu vẫn là một ẩn số đối với mình. Cũng như vậy, người đang yêu rất hiểu về tình yêu nhưng đồng thời vẫn luôn luôn tự hỏi không biết thế nào là tình yêu. Tình yêu là sóng, là gió. Và qua sóng, gió ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu.  

- Với một câu hỏi rất con gái, nhẹ nhàng, bối rối lẫn chút đắm say, ngọt ngào, Xuân Quỳnh đã thì thầm với người đọc bao nỗi băn khoăn. Trăn trở với khổ thơ ta nghe thấy nỗi lòng nhà thơ trăn trở. Nhịp thơ thay đổi linh hoạt đã nhấn mạnh thêm nỗi lo lắng, thảng thốt trong trái tim Xuân Quỳnh. Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành: “Em cũng không biết nữa - Khi nào ta yêu nhau”. Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm.

- Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi “Sóng bắt đầu từ gió” nhưng để hiểu “Gió bắt đầu từ đâu?” thì thi nhân lại ấp úng “Em cũng không biết nữa”. Cũng như tình yêu, nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi “Tình yêu đến trong đời không báo động”. Câu thơ “Em cũng không biết nữa” như một cái lắc đầu nhè nhẹ, phân vân. Đến câu hỏi tu từ “Khi nào ta yêu nhau” thì đúng là nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn thật sự. Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi.

3. Khổ 5:

- Và với Xuân Quỳnh cũng như tất cả với mỗi người đang yêu, tình yêu luôn đi liền với nỗi nhớ,với sự chờ mong da diết, khắc khoải.

- Biện pháp nghệ thuật tu từ nhân hoá kết hợp với điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp đã diễn tả nỗi nhớ mãnh liệt của một trái tim đang yêu, nỗi nhớ thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm cả không gian và thời gian.

- Thán từ “ôi” được sử dụng như nỗi nhớ được gọi thành tên. Nỗi nhớ nôn nao, cồn cào, da diết.

- Xuân Quỳnh đã vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người con gái khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ, có khi nào chẳng cồn cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở.

- Thông qua hình tượng sóng để bộc lộ nỗi nhớ dường như chưa thỏa, nhà thơ đã bộc lộ một cách trực tiếp.

- Xuân Quỳnh dùng chữ “lòng” rất tinh tế, bởi đó là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người, nơi bí mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ. Khi Xuân Quỳnh nói “lòng em nhớ” nghĩa là chị đã phơi bày tất cả tấm chân tình của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ.

- Khổ thơ bất chợt dài ra cho nỗi nhớ tăng dần, cảm xúc như được nâng lên đến tận cùng dạt dào, nóng bỏng.

4. Khổ 6, 7:

- “Dẫu xuôi”, “Dẫu ngược”, “phương bắc”, “phương nam” là những từ cụ thể khẳng định khoảng cách đặt ra xa bao nhiêu thì lòng người lại thủy chung bấy nhiêu. Khổ thơ như một lời khẳng định rắn rỏi, mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng.

- Phải chăng, từ nỗi nhớ trong tình yêu, nhà thơ muốn làm nổi bật tình cảm thủy chung duy nhất của ng¬ười con gái. Dù đi đâu, dù xuôi ng¬ược bốn phư¬ơng, thì em cũng chỉ h¬ướng về một phư¬ơng của anh, có anh, cho anh.

- Ba từ “Ở ngoài kia” đã gợi tả ánh mắt hướng về khơi xa nơi trăm ngàn con sóng ngày đêm không không biết mỏi đang vượt qua giới hạn không gian thăm thẳm muôn vời cách trở để hướng vào bờ ôm ấp nỗi yêu thương. Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc tương lai, vẫn tìm vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn như con sông nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vời cách trở”. Hàng loạt các thử thách được đưa ra gắn liền với thiên nhiên vĩnh hằng để khẳng định sức mạnh của tình yêu và lòng chung thủy.

5. Khổ 8, 9:

 - Ở “Sóng”, tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. Sóng biển mây trời vẫn muôn đời trường tồn như một quy luật bất biến.

-  Những cụm từ “tuy dài thế”, “vẫn đi qua”, “dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo. Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia, như năm tháng kia.

- Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu .

- Yêu thương mãnh liệt nhưng cao thượng, vị tha, nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào biển lớn tình yêu - tình yêu bao la, rộng lớn – để sống hết mình trong tình yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở.

- Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng.            

- Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương...

- Khổ thơ cuối đã khẳng định một ước muốn khôn cùng. Không có tình yêu cuộc sống tha thiết, không có sự đam mê đến tột cùng, không có sự thủy chung làm sao Xuân Quỳnh có được những câu thơ như vậy. Trong ước mong dẫu còn chút băn khoăn của “làm sao được tan ra” nhưng trên tất cả là khát vọng vĩnh viễn hóa tình yêu. Lời thơ, ý thơ, nhịp thơ có phần nhanh hơn, mạnh hơn, gấp gáp hơn. Bài thơ kết thúc mà lời thơ còn vang vọng mãi như con sóng ào ạt hòa vào biển lớn tình yêu cùng với những khát khao cháy bỏng.

III. Tổng kết

- Cả bài thơ, nếu kể cả nhan đề, tác giả mười một lần nhắc đến từ "sóng". Sóng vỗ bờ như tình yêu xôn xao trong tâm hồn.

- Hình tượng sóng cho ta nhiều ấn tượng. Âm điệu, nhịp điệu của sóng, cũng là giọng điệu tâm tình, nhạc điệu của bài thơ.

- Thể thơ ngũ ngôn liền mạch, phong phú về vần điệu, trong sáng trong biểu cảm, lúc bồi hồi tha thiết, lúc day dứt bồn chồn, lúc mạnh mẽ ồn ào, đã gợi lên trong lòng người đọc sự liên tưởng sóng trên đại dương cũng là sóng vỗ trong lòng người con gái đang yêu. Cái hay của bài thơ chính là ở âm điệu nồng nàn ấy.

Giảm 65% học phí 700.000đ 245.000đ

NỘI DUNG KHÓA HỌC

Học thử khóa H2 môn Ngữ văn năm 2017

Trải nghiệm miễn phí 2 bài học Chuyên đề 1: Ngữ văn lớp 12 (Từ 1945 đến hết TK XX)
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 1: Ngữ văn lớp 12 (Từ 1945 đến hết TK XX)

Ở chuyên đề này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu văn học hiện đại Việt Nam ở giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX. Chuyên đề được thiết kế theo trình tự các tác phẩm trong SGK Ngữ Văn 12 (kể cả các tác phẩm văn học nước ngoài). Đến với khóa học H2, chuyên đề 1, ngoài việc được thầy cô giảng dạy và cung cấp đầy đủ tài liệu cho phần nội dung quan trọng của các tác phẩm, các em cũng sẽ được tìm hiểu một cách chi tiết các tác phẩm nước ngoài, tìm hiểu về các tác gia nổi tiếng trên thế giới cũng như nền văn học tiến bộ của nhân loại (mà hầu hết các thầy cô giáo trên trường ít chú trọng và có thể bỏ qua).
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 2: Kỹ năng làm bài đọc hiểu văn bản

Để làm tốt phần đọc hiểu văn bản, đòi hỏi phải có một năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản. Vì vậy, học sinh cần phải được trang bị một cách có hệ thống những kiến thức, kĩ năng để phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản. Chuyên đề này sẽ tập trung vào những kiến thức trọng tâm, những lưu ý khi làm dạng bài đọc hiểu, giúp các em có thể lấy trọn vẹn 3 điểm.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 3: Kỹ năng làm bài văn, đoạn văn Nghị luận xã hội

Phần NLXH là phần không thể thiếu trong các đề thi môn Ngữ Văn. NLXH cũng là phần quá đỗi quen thuộc đối với các thí sinh. Tuy nhiên, các em thường khó lấy trọn vẹn điểm, bởi phần lớn các em không xác định đầy đủ luận điểm để nghị luận. Chuyên đề này sẽ hướng dẫn các em kĩ năng làm bài văn và đoạn văn NLXH.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 4: Kỹ năng làm bài Nghị luận văn học

Nghị luận văn học là một phần không thể không có trong các đề thi. Thế nhưng, các em vẫn còn gặp khó khăn trong việc phân tích các đề nghị luận văn học. Với chuyên đề này, các em sẽ được trang bị một số kỹ năng và lưu ý cần thiết, được củng cố lại kiến thức văn học qua từng dạng đề, vận dụng trực tiếp để giải quyết đề bài một cách linh hoạt, đạt được điểm số cao.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ