Hướng dẫn Hỗ trợ: 098 1821 807 (8h30 - 21h)

GIỚI THIỆU BÀI HỌC

Để giúp thí sinh có thể nắm rõ được cấu trúc, các dạng câu hỏi cũng như nội dung chủ yếu trong phần đọc hiểu đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn. Bài học này sẽ đưa ra một số đề bài cho phần đọc hiểu trong đề thi Văn và giúp các bạn trả lời chúng, để rèn luyện hơn nữa kĩ năng trả lời các câu hỏi ở phần đọc hiểu.

NỘI DUNG BÀI HỌC

Bài tập 1: Xác định hai phương thức kết hợp trong văn bản.

            Ở đời có nhiều người đi học, nhưng ít ai biết học cho thành tài. Danh họa I-ta-li-a Lê-ô- na Đơ Vanh –xi (1452-1519 )thời còn bé, cha thấy có năng khiếu hội họa, mới cho theo học danh họa Vê-rô-ki-ô rất đặc biệt. Ông bắt cậu bé học vẽ trứng gà mấy chục ngày liền , làm cậu ta phát chán. Lúc bấy giờ, thầy mới nói: “Em nên biết rằng trong một nghìn cái trứng, không bao giờ có hai cái có hình dáng hoàn toàn giống nhau! Cho dù là một cái trứng, chỉ cần ta thay đổi góc nhìn nó lại hiện ra một hình dạng khác. Do vậy, nếu không cố công luyện tập thì không vẽ đúng được đâu !”. Thầy Vê-rô-ki-ô còn nói, vẽ đi vẽ lại cái trứng còn là cách luyện mắt cho tinh, luyện tay cho dẻo. Khi nào mắt tinh, tay dẻo thì mới vẽ được mọi thứ. Học theo cách của thầy quả nhiên về sau Đơ Vanh-Xi trở thành họa sĩ lớn của thời Phục Hưng.

Câu chuyện vẽ trứng của Đơ Vanh-Xi cho người ta thấy chỉ ai chịu khó luyện tập động tác cơ bản thật tốt, thật tinh thì mới có tiền đồ. Và cũng chỉ có những ông thầy lớn mới biết dạy cho học trò những điều cơ bản nhất. Người xưa nói, chỉ có thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi, quả không sai .

                   ( Trích Học cơ bản mới trở thành tài lớn – Xuân Yên, Ngữ văn7)

Phương thức biểu đạt tự sự và nghị luận.

Bài tập 2: Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi:

"...Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ

Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!

 

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương...”

                                     (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)

a. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ.

b. Cho biết những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ và nêu tác dụng của chúng.  

c. Chất suy tưởng triết lí được thể hiện qua những câu thơ nào?

- Những phương thức biểu đạt: biểu cảm, miêu tả, nghị luận

- Những biện pháp nghệ thuật tu từ:

+ Điệp từ.

+ Điệp ngữ.

+ Điệp cấu trúc.

+ So sánh.

+ Ẩn dụ.

+ Câu hỏi tu từ.

- Chất suy tưởng triết lí được thể hiện qua những câu thơ:

+ “Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương”

+ “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

   Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!”

+ “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

Bài tập 3: Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi:

 “…Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở  trước

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

 

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi.”

            (“Tổ quốc nhìn từ biển” – Nguyễn Việt Chiến)

a.  Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt của văn bản.

c. Tìm các biện pháp nghệ thuật tu từ trong văn bản.

- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.

- Phương thức biểu đạt biểu cảm.

- Các biện pháp nghệ thuật tu từ:

+ Điệp cấu trúc, điệp ngữ, điệp từ.

+ Ẩn dụ.

Bài tập 4: Đọc văn bản sau đây và trả lời các câu hỏi:

 “Người dân ở đông bằng duyên hải miền Trung thường tổ chức nhiều lễ hội như lễ rước cá Ông, lễ hội Ka-tê,…

Vào đầu mùa hạ, ở Nha Trang có lễ hội Tháp Bà của người Chăm. Người dân tập trung tại các khu Tháp Bà để làm lễ ca ngợi công đức Nữ thần và cầu chúc một cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc. Sau đó là phần hội với các hoạt động văn nghệ, thể thao như múa, hát, bơi thuyền…diễn ra rất sôi nổi.”

                                                                                                  (Theo sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí lớp 4)

Văn bản trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?
Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.

Phương thức biểu đạt thuyết minh.
Phong cách ngôn ngữ khoa học.

Giảm 60% học phí 700.000đ 280.000đ

NỘI DUNG KHÓA HỌC

Học thử khóa H2 môn Ngữ văn năm 2017

Trải nghiệm miễn phí 2 bài học Chuyên đề 1: Ngữ văn lớp 12 (Từ 1945 đến hết TK XX)
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 1: Ngữ văn lớp 12 (Từ 1945 đến hết TK XX)

Ở chuyên đề này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu văn học hiện đại Việt Nam ở giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX. Chuyên đề được thiết kế theo trình tự các tác phẩm trong SGK Ngữ Văn 12 (kể cả các tác phẩm văn học nước ngoài). Đến với khóa học H2, chuyên đề 1, ngoài việc được thầy cô giảng dạy và cung cấp đầy đủ tài liệu cho phần nội dung quan trọng của các tác phẩm, các em cũng sẽ được tìm hiểu một cách chi tiết các tác phẩm nước ngoài, tìm hiểu về các tác gia nổi tiếng trên thế giới cũng như nền văn học tiến bộ của nhân loại (mà hầu hết các thầy cô giáo trên trường ít chú trọng và có thể bỏ qua).
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 2: Kỹ năng làm bài đọc hiểu văn bản

Để làm tốt phần đọc hiểu văn bản, đòi hỏi phải có một năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản. Vì vậy, học sinh cần phải được trang bị một cách có hệ thống những kiến thức, kĩ năng để phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản. Chuyên đề này sẽ tập trung vào những kiến thức trọng tâm, những lưu ý khi làm dạng bài đọc hiểu, giúp các em có thể lấy trọn vẹn 3 điểm.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 3: Kỹ năng làm bài văn, đoạn văn Nghị luận xã hội

Phần NLXH là phần không thể thiếu trong các đề thi môn Ngữ Văn. NLXH cũng là phần quá đỗi quen thuộc đối với các thí sinh. Tuy nhiên, các em thường khó lấy trọn vẹn điểm, bởi phần lớn các em không xác định đầy đủ luận điểm để nghị luận. Chuyên đề này sẽ hướng dẫn các em kĩ năng làm bài văn và đoạn văn NLXH.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ

Chuyên đề 4: Kỹ năng làm bài Nghị luận văn học

Nghị luận văn học là một phần không thể không có trong các đề thi. Thế nhưng, các em vẫn còn gặp khó khăn trong việc phân tích các đề nghị luận văn học. Với chuyên đề này, các em sẽ được trang bị một số kỹ năng và lưu ý cần thiết, được củng cố lại kiến thức văn học qua từng dạng đề, vận dụng trực tiếp để giải quyết đề bài một cách linh hoạt, đạt được điểm số cao.
 Giáo viên: Cô Phan Thị Mỹ Huệ